MarNET - Online Solution
Địa chỉ: Số 16/640 Đường Láng - Đống đa - Hà Nội
Điện thoại: 04.6659.2786 - Mail: info@marnet.net
Tư vấn dịch vụ Marketing Online, Branding Online, Bán hàng trực tuyến Tư vấn bán hàng trực tuyến, Logistic, xây dựng kênh bán hàng hoặc đại lý bán hàng trực tuyến Tư vấn kỹ thuật thao tác công nghệ trên internet và website của Doanh nghiệp

Bài học thương hiệu từ vụ iPhone ở Việt Nam

 Từ trước đến nay, ở Việt Nam, chưa bao giờ có cảnh cả đoàn người xếp hàng chờ ra mắt sản phẩm như ở các nước khác. Nhưng sự kiện ra mắt iPhone vừa rồi đã thay đổi tất cả.>Cơn sốt iPhone / iPhone không phải vỏ sò

Không phủ nhận có sự tác động truyền thông của hai nhà mạng là việc VinaPhone và Viettel úp mở và đưa đẩy câu chuyện này khiến cho đi đâu cũng nghe nói về iPhone, và người ta háo hức đón chờ ngày nhà mạng công bố giá bán máy và giá cước. Trên các diễn đàn trực tuyến, sự tranh luận, phỏng đoán càng sôi nổi hơn. Nhưng quả bóng xì hơi ngay lập tức khi những thông tin chính thức được đưa ra. Từ câu chuyện này có mấy góc nhìn:

Mỗi sản phẩm có một phân khúc thị trường riêng. Doanh nghiệp nào đã kinh doanh trên diện rộng sẽ phải có những dịch vụ đáp ứng đủ cho các phân khúc khách hàng của mình. Bởi vì iPhone không phải là sản phẩm dành cho giới bình dân và cho dù nhà cung cấp có dùng hình thức gì để kinh doanh thì họ cũng phải đảm bảo lợi nhuận, nên kỳ vọng của số đông người tiêu dùng chắc chắn không được đáp ứng. Còn kỳ vọng của nhà mạng? Nói như một ý kiến là họ bỏ “con săn sắt” là giá máy để bắt “con cá rô” là các dịch vụ mà những khách hàng VIP này sẽ sử dụng hàng ngày hoặc ít nhất đã cầm đằng chuôi gói cước khách hàng đã cam kết.

Nhiều người cho rằng người Việt Nam tuy chưa giàu nhưng rất thích dùng hàng xa xỉ và trong khi Nhà nước đang hạn chế nhập siêu với những mặt hàng kiểu này thì cơn sốt iPhone lại càng làm các ý kiến trên lên tiếng. Ở đây bài toán kinh tế thị trường sẽ quyết định tất cả, sản phẩm xa xỉ sẽ chỉ dành cho những người có thu nhập cao và mong muốn sở hữu nó. Khi họ đã có nhu cầu, nếu không bằng con đường chính thống thì họ cũng sẽ tìm những cách khác để sở hữu sản phẩm mình mong muốn, khi đó nhà nước có thể bị thất thu thuế. Tiền được đưa vào lưu thông bằng cách này hay cách khác cũng sẽ tạo ra những giá trị cho xã hội kể cả hữu hình hay vô hình.

Không phải cuộc chiến giữa các nhà mạng mà là cuộc chiến giữa chính hãng và “xách tay”. Tình hình đìu hiu của các cửa hàng bán iPhone xách tay trước cơn sốt và sau đó là của cửa hàng chính hãng sau vài ngày ra mắt có thể là do người dùng tiếp tục chờ đợi những phản ứng linh động của các cửa hàng kinh doanh nhỏ lẻ trước các ông lớn. Khi một trong hai bên không đủ kiên nhẫn chờ đợi tình trạng ế ẩm, chắc phần nhiều các cửa hàng xách tay sẽ nhún một bước trước vì tiềm lực mọi mặt không thể so kè, khi đó mặt bằng giá lại được thiết lập mức mới.

Nhưng nếu tiếp tục kỳ vọng nhà mạng giảm giá ngay thì chắc họ sẽ lại thất vọng lần nữa vì ít nhất cũng phải đợi MobiFone ra mắt. Với các điều kiện chặt chẽ của Apple thì chắc MobiFone cũng không thể giảm được nhiều, có chăng là các gói cước sẽ linh hoạt hơn. Vậy ít nhất đợt giảm giá tiếp theo cũng phải đến tháng 6, khi Apple ra mắt phiên bản iPhone mới. Trong khoảng thời gian này chúng ta sẽ chờ đợi những đợt đánh du kích của các cửa hàng xách tay.

Sức mạnh của truyền thông

Nhà mạng đã tận dụng yếu tố ai cũng mong muốn được sở hữu một sản phẩm thời thượng với giá hợp lý và là sự kiện hot nên rất nhiều báo chí đã tự nguyện nhảy vào công cuộc lan truyền này. Bên cạnh đó kết hợp với số đông cộng đồng lan truyền thông tin tự nhiên để câu chuyện lên đến điểm kịch tính qua các con số đặt mua khổng lồ trước ngày bán chính thức, trong khi lượng hàng nhập về được tiết lộ ít hơn con số đó nhiều lần, đã tác động cả lên những người trước đó chẳng quan tâm đến iPhone là gì.

Ngay cả khi quả bóng đã xẹp thì người ta vẫn đua nhau phân tích tại sao nó xẹp. Nếu được hoạch định kế hoạch truyền thông cho chiến dịch này chắc không cần tốn nhiều chi phí cho quảng cáo iPhone ngay sau ra mắt như nhà mạng đã làm, vì bản thân sản phẩm và sự kiện có sức viral quá tốt, nên dành chi phí này cho khuyến mại trực tiếp chắc chắn còn gây ra các làn sóng nhỏ nữa. Một chân lý kinh điển rút ra từ các chiến dịch truyền thông cho iPhone trên thế giới là truyền thông sẽ rất rẻ và dễ dàng nếu bạn để mọi người tự làm điều đó cho bạn. Tất nhiên cái này chỉ đúng nếu sản phẩm đưa ra phải thật đặc biệt để được hưởng sự săn đón của giới truyền thông.

Đến thời điểm này, chúng ta có thể thấy sự song hành của cả hai nhà mạng trên các kênh truyền thông: báo in, báo điện tử, truyền hình. Nhưng có vẻ nó là sự nhân bản thiếu sáng tạo của các tư liệu truyền thông do Apple cung cấp. Tuy nhiên, trong thời kỳ bùng nổ của truyền thông mạng xã hội (social media) thì kênh này lại không được đề cập đến trong các chiến dịch của hai nhà mạng. Trên các diễn dàn, các mạng xã hội rất nhiều thông tin trái chiều, nhưng rất ít thông tin mang tính dẫn dắt có chủ đích giúp cộng đồng hiểu đúng vấn đề. Các thông tin thực sự hữu ích được đưa lên vô tình bởi các chuyên gia “tự nguyện”. Liệu trong chặng đường sắp tới, nhà mạng nào sẽ chiếm lĩnh được kênh truyền thông để biến nó thành thế mạnh cạnh tranh?

Liệu có thể thất bại? Mặc dù được đánh giá là một trong những chiến dịch marketing xuất sắc nhất mọi thời đại nhưng Apple cũng đã mắc phải một số sai lầm nhất định. Chúng ta cùng điểm lại những sai lầm chính trong các chiến dịch marketing của Apple dành cho iPhone để xem liệu các nhà mạng tại Việt Nam có dẫm chân lên vết xe đổ đó không:

- Giảm giá quá nhanh: Apple giảm giá bán lẻ iPhone 33% ngay sau 3 tháng đầu tiên ra mắt, điều này làm các khách hàng trung thành của “Quả táo” cảm thấy bị phản bội và lợi dụng. Họ đã phải rất vất vả đặt hàng và xếp hàng chờ mua được chiếc iPhone mơ ước, nhưng 3 tháng sau rất nhiều người đã có nó. Kịch bản tương tự tại Việt Nam có thể xảy ra: tháng 6 tới iPhone 4GS ra mắt, giá sản phẩm iPhone 3GS sẽ giảm nhanh chóng, nếu 2 nhà mạng không có chính sách phù hợp cho những khách hàng mua trong dịp khai trương vừa rồi, nhiều khả năng sẽ phải hứng chịu đợt phản ứng từ khách hàng.

- Ra mắt muộn ở các thị trường: Chính sách tham lam của Apple trong việc thống nhất các điều khoản về giá, chính sách, … với các nhà mạng khiến việc ra mắt tại toàn bộ các nước châu Âu và những trị trường quan trọng khác trên thế giới đã bị chậm một năm so với tại Mỹ và bây giờ chúng ta mới được mua iPhone chính hãng tại Việt Nam. Nhiều tín đồ trung thành của Apple ở các thị trường đó không thể chờ đợi được sự chậm trễ này đã tìm mọi cách, kể cả bẻ khóa để có thể sở hữu iPhone. Đây chính là điều đã làm suy yếu việc kinh doanh một sản phẩm tuyệt vời bằng một sai lầm trong marketing. Vậy chúng ta sẽ cùng chờ đợi câu chuyện iPhone 4GS sắp tới có được ra mắt đồng thời với toàn cầu tại Việt Nam không, nếu các nhà mạng không đàm phán được việc này thì người tiêu dùng Việt Nam cũng sẽ rơi vào tâm lý bị lợi dụng và phản bội.


Seo trong kinh doanh [Seo.com]

Gần như 99% các yêu cầu dịch vụ SEO mà chúng tôi nhận được đều bắt đầu bằng câu hỏi “tôi muốn các từ khóa x, y, z lên top 5 Google, giá bao nhiêu và thời gian bao lâu?”. Cũng dễ hiểu, vì đây là cách tiếp cận đơn giản nhất đối với SEO cho những khách hàng mới bắt đầu có nhu cầu áp dụng SEO vào kinh doanh. Và sau khi dự án hoàn thành, đa phần những khách hàng đó vào Google search các từ x, y, z và thấy website mình nằm đúng vị trí mong muốn. Thế là yên tâm, và nghĩ rằng mình đã “SEO” xong. Nhưng thực chất, kết quả có được từ SEO không đơn giản như vậy.
Top trên Google

Top trên Google
Một ví dụ điển hình về thành công trong SEO mà chúng tôi muốn dẫn chứng là 1 website quy mô nhỏ nhưng có gần 90% tổng số lượt thăm (visit) đến từ Google, khoảng hơn 200.000 visit/tháng. Và 200.000 visit đó đến từ… 104.000 từ khóa (tất nhiên là những từ khóa liên quan đến lĩnh vực hoạt động). Từ đó bạn sẽ thấy rằng khách hàng đến với dịch vụ của bạn bằng rất nhiều tên gọi khác nhau, suy nghĩ khác nhau và nhất là cách họ tìm kiếm trên internet cũng rất khác. Do đó, đa phần những từ khóa này là đúng thông tin cụ thể mà khách hàng cần và là thông tin có trên site của bạn. Do đó nếu site bạn được tối ưu hóa tốt và có nội dung tốt sẽ có nhiều cơ hội xuất hiện trong top kết quả tìm kiếm.
Từ đây chúng ta có được 1 kinh nghiệm trong việc chọn từ khóa cho website khi thực hiện SEO. Thử xét 1 ví dụ: Nếu bạn là 1 công ty chuyên kinh doanh và phân phối điện thoại iPhone thì khoan hãy đến với các dịch vụ SEO để nói rằng “tôi muốn website công ty lên top 5 với từ khóa ‘dtdd’ hay ‘iPhone’. Vì những từ khóa “chung chung” và ngắn này (short-tail keyword) có sức cạnh tranh rất cao, bạn sẽ phải bỏ rất nhiều tiền để dịch vụ thực hiện SEO nhưng kết quả mang lại chưa chắc đã khả quan, mà hãy xét đến mục tiêu của bạn (goal). Với ví dụ này thì mục tiêu dễ thấy nhất của bạn chính là để khách hàng biết đến sản phẩm bạn đang phân phối, và đặt hàng. Như vậy thì bạn có chắc rằng những người tìm “dtdd” hay “iPhone” trên Google đều người đang cần mua điện thoại (là khách hàng tiềm năng) hay chỉ là những người đang nghiên cứu về điện thoại, hay chỉ là những người muốn tìm tin tức về iPhone. Thay vào đó, hãy nghĩ đến những từ khóa dài (long-tail keyword). Đây là những từ liên quan đến từ gốc, nhưng sẽ cụ thể và chính xác hơn. Ví dụ: “giá điện thoại iPhone”, “iPhone 3GS 16GB”, “cửa hàng bán iPhone”. Đây là những từ khóa rất cụ thể, số lượng tìm kiếm của mỗi từ này sẽ ít hơn rất nhiều so với short-tail keyword, nhưng lợi thế của nó thì không kém, vì bạn có thể nói 80% những người tìm kiếm các từ khóa này là khách hàng tiềm năng của bạn – những người cần mua iPhone, hơn nữa số lượng long-tail keyword rất phong phú và ít cạnh tranh.
Như vậy có thể nói rằng trừ những trường hợp đặc biệt hoặc ngân sách dồi dào, bạn nên tập trung vào tối ưu “long-tail keyword” trên site của mình hơn là bỏ tiền ra để đưa 1 vài từ khóa lên top. Nhưng như đã nói ở trên, số lượng từ khóa “long-tail” mà khách hàng có thể tìm đến là rất nhiều, làm thế nào để có thể tối ưu tất cả? Câu trả lời là hãy làm cho website của bạn thân thiện với máy tìm kiếm (on-page SEO). Có nghĩa máy tìm kiếm có thể dễ dàng đọc và ghi nhận nội dung trên site, khi đó nếu có những từ khóa liên quan đến nội dung của bạn được tìm kiếm thì khả năng site được xếp hạng top là rất cao. Để làm được điều này cần có nhiều tối ưu hóa về kỹ thuật và nội dung trên site mà bạn sẽ phải nhờ đến các dịch vụ tư vấn SEO.
Do đó khi muốn mở rộng kinh doanh trên môi trường internet, trước tiên bạn hãy có 1 website thân thiện với máy tìm kiếm, sau đó  nghĩ đến những cách mà khách hàng sẽ nói về lĩnh vực kinh doanh của bạn và đầu tư vào phần nội dung để viết về những chủ đề đó trên site. Nên nhớ rằng bạn sẽ chỉ được xuất hiện trong kết quả tìm kiếm nếu như site bạn có nói về vấn đề mà người dùng đang tìm.
Nguồn LàmSEO (lamseo.com

Sử dụng email để làm SEO [seoman.vn]

Bạn có thể không tin nổi khi đọc bài viết này. Chúng ta đều biết rằng các bộ máy tìm kiếm không thu thập hay lưu trữ địa chỉ email. Chúng ta quên một điều, chính là bạn có tùy chọn để xem một bản sao của e-mail mà bạn nhận được trong trình duyệt. Thông thường đó là giành cho những email được gửi từ các thương hiệu tới những người đăng ký cho một bản tin…vv. Bản sao này của e-mail thường chỉ là một trang HTML đơn giản có thể được thu thập và ghi lại bởi công cụ tìm kiếm, và, nếu bạn mở các thẻ của bạn ngay, bạn có thể kiếm lời công cuộc tìm kiếm tối ưu của mình.
Sử dụng Email để làm SEO
Sử dụng Email để làm SEO
Nếu bạn là một tiếp thị viên (Marketer), hầu hết các email bạn gửi đi đều sẽ cung cấp một tùy chọn cho phép xem email trên một trình duyệt, thông thường được chỉ định ở đầu các email cùng với thứ gì đó đại loại như “Nếu dòng tin này không được hiển thị đầy đủ, hãy click vào đây để mở trình duyêt”. Sau khi nhấp chuột, trình duyệt sẽ mở ra một bản email giống như vậy nhưng là một trang HTML tĩnh. Thường thì các email này sẽ có liên kết quay trở lại trang web của bạn để lấy những thông tin và gọi tới các hành động khác, và bạn có thể lợi dụng điều đó để đưa các liên kết cho mục đích SEO một cách hợp lý.
Có thể có một số nội dung hoặc email mà bạn không muốn bộ máy tìm kiếm thu thập thông tin và lưu giữ. Trong trường hợp này, chỉ cần định dạng tập tin robot.txt của bạn cho phù hợp. Dưới đây là một số chỉ dẫn và ví dụ:
  • Đặt tất cả những bản HTML của email bạn muốn thu thập vào một thư mục. Ví dụ này,tôi đặt là “Google_Email”.
  • Đặt tất cả những bản HTML của email bạn không muốn thu thập (do nội dung nhạy cảm) vào một thư mục. Ví dụ này,tôi đặt là “no_Email”.
  • Cập nhật file robot.txt để nó không cho phép thư mục “No_Email”:
Sử dụng kí hiệu: *
Không cho phép: /No_Email
  • Hãy chắc chắn rằng tất cả các phiên bản HTML trong thư mục “Google_Email”
    đều đang sử dụng SEO Best Practices – Optimized Headlines, Body Copy, Links Using Keywords và trỏ đến các trang gắn target  SEO trong website của bạn.
  • Để tăng thêm các liên kết và lưu lượng truy cập vào các trang đã gắn target SEO của bạn, hãy thêm một tùy chọn  “Share” cho e-Mail mà liên kết đến các trang gắn target SEO trong trang web của bạn, do đó tạo cơ hội để tăng các liên kết hợp lý một cách tự nhiên.
  • Nếu bạn không thể thêm vào phần thân văn bản trong email các liên kết, hãy tạo một vùng “Liên kết nhanh” trong khung bên phải để đưa các liên kết tới các trang có gắn target SEO trong website của bạn.
  • Thêm những Email này(các URL thật) vào sơ đồ trang XML của bạn.
  • Nếu có thể, hãy thiết lập các số liệu cho trang web của bạn để xem những gì tác động đến các e-mail này  có tăng hiệu suất SEO của bạn không.
Thật quá đơn giản!

Xây dựng cộng đồng trực tuyến [saga]

Các doanh nghiệp đang có xu hướng xây dựng các cộng đồng trực tuyến như là một phương tiện để giao tiếp với khách hàng.
Một cộng đồng trực tuyến đem đến cho cả khách hàng hiện tại, khách hàng tiềm năng, những người ủng hộ và người hâm mộ doanh nghiệp những cơ hội để tham gia vào các cuộc thảo luận về những nhãn hiệu mà họ yêu thích, từ đó giúp doanh nghiệp củng cố nhãn hiệu của mình, nắm được kịp thời những phản hồi của khách hàng và giữ liên lạc thường xuyên với họ.
Tuy nhiên, xây dựng một cộng đồng trực tuyến thành công không phải là điều dễ đàng. Một cộng đồng vững mạnh còn phải có những mục tiêu và chiến lược rõ ràng để có thể tạo ra sức thu hút và gắn kết các thành viên. Dưới đây là năm bí quyết giúp doanh nghiệp xây đựng một cộng đồng trực tuyến như vậy.
1 . Xác định mục tiêu
Nghe có và hiển nhiên, nhưng trên thực tế nhiều doanh nghiệp thường đặt ra những mục tiêu rất chung chung cho cộng đồng trực tuyến, mà lẽ ra phái thiết lập thật cụ thể. Dưới dây là một số câu hỏi mà doanh nghiệp cần đặt ra trước khi xây dựng một cộng đồng trực tuyến:
2. Xác định các thước đo
Việc chọn những thước đo đe đánh giá thành công và tần suất lợi nhuận từ đầu tư (ROI) thường bị các doanh nghiệp bỏ qua khi xây dựng các chiến dịch truyền thông. Dưới đây là một số ví dụ về các thước đo để đánh giá hiệu quả của việc xây dựng cộng đồng trực tuyến:
3. Xây dựng kế hoạch tiếp thị
Một kế hoạch tiếp thị nghiêm túc nhằm thu hút thành viên, tạo ra sự gắn kết họ với trang web sẽ là một công cụ làm vững mạnh cộng đồng trực tuyến. Để tăng sức hút và tăng sự gắn kết của các thành viên, doanh nghiệp cần tập trung vào các hoạt động tiếp thị cụ thể hướng đến cộng đồng như tổ chức các cuộc thi, cung cấp những nội dung chỉ dành cho thành viên, tặng quà và các giải thưởng cho các thành viên...
Ngoài ra, doanh nghiệp phải xem cộng đồng trực tuyến là trung tâm của một nỗ lực tiếp thị. Mỗi chiến dịch tiếp thị phải khuyến khích khách hàng tham gia vào cộng đồng và nói về nhãn hiệu của doanh nghiệp. Chẳng hạn, nếu doanh nghiệp đang tung một sản phẩm mới ra thị trường thì nên tổ chức một cuộc thi viết blog hay xây dựng các đoạn phim video giúp các thành viên nói lên lý do tại sao họ yêu mến sản phẩm của doanh nghiệp và sử dụng nó như thế nào.

4. Xác định mục tiêu và chiến lược hướng đến doanh thu và lợi nhuận
Nếu mục tiêu chính của doanh nghiệp trong việc sử dụng cộng đồng trực tuyến là để củng cố hình ảnh của nhãn hiệu và tìm hiểu phản hồi của khách hàng thì các mục tiêu tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận có thể không phải là phần quan trọng trong chiến lược của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp đưa các mục tiêu này lên thành ưu tiên hàng đầu thì nên xem xét những hình thức tiếp thị khác như quảng cáo, thương mại điện tử... Doanh nghiệp có thể tạo ra giá trị từ cộng đồng bằng nhiều hình thức khác nhau mà các hình thức này không nhất thiết trực tiếp tạo ra doanh thu. Đôi khi, một nhãn hiệu cần các kênh truyền thông xã hội chỉ để cập nhật thông tin, phản hồi từ khách hàng, giữ liên lạc thường xuyên với họ và tăng khả năng cạnh tranh.
5. Xác định cách xây dựng cộng đồng trực tuyến
Nếu doanh nghiệp không có một đội ngũ các nhà thiết kế và phát triển trang web xã hội thì có thể sử dụng nhiều nguồn khác nhau như các công ty quảng cáo, các nhà cung cấp các giải pháp công nghệ truyền thông xã hội... để xây dựng cộng đồng trực tuyến. Đa số doanh nghiệp hiện đang phải chuyển giao ra ngoài các công việc này cho các nhà cung cấp giải pháp công nghệ. Trong mọi trường hợp, doanh nghiệp cần phải xác định ngân sách, các nguồn lực nội bộ (như các điều phái viên, giám đốc dự án), các mục tiêu và thời hạn hoàn thành.

Doanh nghiệp Việt Nam ...thương hiệu Online sao còn thờ ơ [DoanhnhanSaigon]

Với xu hướng phát triển online, số người dùng internet ngày tăng thì việc xây dựng thương hiệu online (THOL) trở thành xu thế tất yếu của thị trường. Nhưng đa phần các doanh nghiệp vẩn chưa mặn mà với thị trường này.

Theo số liệu thống kê mới nhất của Công ty Nghiên cứu thị trường Cimigo, hiện cả nước có hơn 23 triệu người Việt Nam đang sử dụng internet, số người sử dụng tập trung ở độ tuổi từ 15 - 40. Đây chính là môi trường lý tưởng và quan trọng để các DN phát triển THOL.
Hiểu được tầm quan trọng của xây dựng THOL nên hầu hết DN đều đã xây dựng website, hoặc tham gia các hoạt động kinh doanh, quảng cáo trực tuyến.
Thế nhưng, trên thực tế, số lượng DN “thật sự quan tâm” đến THOL chưa nhiều. Khảo sát của Công ty Nhất Duy cho thấy, có đến 82% website DN không được cập nhật thông tin thường xuyên, 73% DN chưa đầu tư đúng mức cho xây dựng và phát triển THOL, 85% DN chưa có bộ phận marketing trực tuyến chuyên nghiệp.
Ông Phạm Năng Khoa, Giám đốc Công ty Nhất Duy, một DN chuyên xây dựng THOL, cho rằng: “Mặc dù tiếp thị trực tuyến (hay tiếp thị số) đang ngày càng được quan tâm, nhưng phần lớn DN chỉ thực hiện trong thời gian ngắn, chủ yếu để quảng bá một chương trình, kế hoạch”.
Cùng quan điểm đó, ông Nguyễn Thanh Hồng Đức, đại diện Công ty Thương hiệu Lanta (Lantabrand), cho biết: “Hiện nay, vẫn còn nhiều DN nhầm lẫn trong xây dựng THTT. Nhiều website thiết kế rất đẹp mắt bằng những kỹ thuật cao như flash, frame, movie, nhưng lại quá chú trọng về hình thức mà quên mất tính năng, lợi ích cho người truy cập. Kết quả là những website này chỉ đơn giản là những cuốn brochure điện tử với những hình ảnh đẹp mắt”.
Ông Xuân Thủy, Giám đốc sáng tạo Công ty Tầm nhìn Thương hiệu, cho rằng, phát triển THOL thực ra là làm dịch vụ truyền thông THOL, khả năng lan tỏa nhanh hơn, chi phí tiết kiệm hơn rất nhiều so với đầu tư xây dựng thương hiệu trên thực tế.

Theo nhiều chuyên gia thương hiệu, phát triển THOL là một nhánh trong chiến lược phát triển thương hiệu chung của mọi DN. Cũng giống như làm thương hiệu, làm THOL đòi hỏi một chiến lược tổng thể, kết hợp giữa rất nhiều loại hình khác nhau, từ bộ nhận diện thương hiệu tới e-marketing và quảng cáo trực tuyến, từ sự kiện tới tham gia mạng xã hội, quảng cáo... Xây dựng một chương trình THOL dài hạn đòi hỏi phải có kiến thức tổng quan về internet và các công cụ marketing trực tuyến.
Bên cạnh những điểm giống nhau, xây dựng THOL còn có những điểm khác. Theo ông Hồng Đức, khi xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm, người ta thường chú trọng hình ảnh và thực hiện việc truyền thông (quảng cáo trên tivi, báo chí) một cách đều đặn nhằm tạo ra được những slogan hiệu quả và hình ảnh bắt mắt. Ngược lại, xây dựng THOL chú ý đến tính năng mà thương hiệu đó mang lại. “Để xây dựng và phát triển THOL, DN cũng cần một phòng marketing chuyên nghiệp.
Bộ phận này cần một đội ngũ chuyên gia về phát triển THOL, nghiên cứu và lập kế hoạch phát triển thương hiệu một cách hiệu quả nhất. Bên cạnh đó, cũng phải có những lập trình viên lập trình kỹ thuật để tối ưu hóa website DN và bộ phận biên tập viên quản lý nội dung và hình ảnh DN”, ông Năng Khoa nói.
Nhưng điều nghịch lý là hiện nay, các DN Việt Nam phần lớn là DN nhỏ và vừa, chưa có đủ điều kiện để xây dựng được một phòng marketing trực tuyến chuyên nghiệp. Theo ông Hồng Đức, mỗi lần người truy cập sử dụng thành công ứng dụng trên mạng thì thương hiệu của DN sẽ được củng cố và nâng cao.
Một DN có THOL là khi thương hiệu và sản phẩm, dịch vụ của công ty dễ dàng tìm thấy trên internet. Thương hiệu đó cũng nổi bật và chuyển tải được thông điệp tới khách hàng, bạn đọc trực tuyến nhanh chóng, chính xác và kịp thời đi kèm những nội dung liên quan phong phú, hữu ích và thiện chí.
Để có một thương hiệu mạnh trên môi trường trực tuyến, các DN phải có những hoạt động tương tác với khách hàng và phải thực hiện thường xuyên, liên tục để đưa thương hiệu vào tâm trí khách hàng.

Mạng xã hội + Chức năng tìm kiếm = Năng lượng marketing [kienthuckinhte]

Việc sử dụng Twitter và Facebook rộng rãi càng thu hút giới marketing quan tâm đến với cuộc sống số.
Bên cạnh đó, chúng ta những người làm marketing có thể kết hợp với các công cụ tìm kiếm như Google và Bing để thực thi một chiến dịch quảng bá. Và hãy ra quyết định nhanh chóng để dẫn đầu đối thủ.


Vấn đề trên ảnh hưởng như thế nào đối với doanh nghiệp? Điều này chỉ ra, mạng xã hội sẽ là nơi quan trọng cung cấp thông tin cho người dùng khi họ muốn cập nhật cuộc sống của nhãn hàng, sản phẩm với chức năng tìm kiếm, cập nhật real-time search(cập nhật thông tin bạn bè ngay tức thì)

Tin tốt là khi các thông tin hàng ngày của sản phẩm được cập nhật liên tục, chúng sẽ được rất nhiều người tìm kiếm thông tin săn đón, nếu như thông tin về sản phẩm, thị trường đang rất được săn đón. Tin xấu là nếu đối thủ biết tận dụng mạng xã hội trong khi bạn thì không, điều hiển nhiên là các công cụ tìm kiếm sẽ cập nhật thông tin cho đối thủ nhanh hơn của bạn.

Tôi phải khẳng định rằng là các mạng xã hội ồn ào như một tổ ong vò vẻ truyền miệng liên tục về các thông tin mang thời sự và mới mẻ. Và mạng xã hội là một chìa khóa tiềm năng để mở cửa tâm trí khách hàng.

Chức năng cập nhật thông tin bạn bè giúp chúng ta kết nối liên tục với khách hàng mọi lúc mọi nơi, nó còn cho phép chúng ta mời gọi và thu hút khách hàng đến với những cập nhật mới nhất, hấp dẫn nhất của nhãn hàng trên mạng xã hội thông qua phưong tiện tìm kiếm như Bing hay Google. Nếu bạn vẫn chưa bắt tay vào việc xây dựng một chiến lược truyền thông xã hội trực tuyến do chưa thấy được tiềm năng của nó, thì mong rằng những lý lẽ trên sẽ giúp bạn thay đổi tư duy.

Ngày 21 tháng 10, Bing và Goolge càng làm giới marketing phải xôn xao với những tiết lộ rất quan trọng.

Bing cho biết họ đã kết hợp tình năng cập nhật thông tin của người sử dụng Twitter và Facebook vào kết quả tìm kiếm khi người dùng sử dụng công cụ tìm kiếm của họ. Thành công của sự kết hợp ngoạn mục này là đã qui tụ được một lượng rất lớn sự tò mò của các thành viên sử dụng công cụ tìm kiếm real-time, cũng như đẩy giới marketing lên một bước tiến xa hơn trong việc tập trung thông tin trên Internet.

Chưa hết, tất cả các mạng xã hội đều nhảy nhổm lên với những gì giám đốc điều hành Google, Marissa Meyer công bố tại hội nghị Web 2.0: chiến lược sắp tới của Google là kết hợp  mạng xã hội với các đường link liên kết, để mang lại kết quả cập nhật tốt hơn thông qua công cụ tìm kiếm mạng xã hội mới Google Social Search.

Không biết với những thông tin như vậy đã đủ làm bạn tự tin hơn trong việc giang tay chộp lấy công cụ quảng bá mới này, mạng truyền thông xã hội hay chưa? Nhưng chắc chắn đây là thời điểm tốt và thuận lợi nhất để mang lại sức sống mới, sự quan tâm mới từ phía khách hàng.

Đội bóng mang tên "Marketing" [SaGa]

Ở mức độ cơ bản nhất, chúng ta có thể thấy mối liên hệ mạnh mẽ giữa bóng đá hay bất kỳ môn thể thao đồng đội nào với công việc kinh doanh . Để thành công, các cầu thủ phải hợp tác để cùng tạo ra một trận đấu tốt. Tất cả chúng ta đều nhận thấy điều đó trong kinh doanh, giống như một đội bóng, những cầu thủ yếu kém về chuyên môn có thể tạo ra điểm yếu để đối thủ khai thác.


Cho dù có rất nhiều mối liên hệ giữa bóng đá và kinh doanh, bài báo này khai thác vấn đề đưa bóng đi – và ví dụ liên quan đến việc, một cầu thủ mạnh mẽ thái quá gây hại cho một đội bóng.

Trước khi xem xét mối liên hệ của nó trong kinh doanh nói chung và marketing nói riêng, chúng ta nên giải thích ý nghĩa của khái niệm này. Khi một cầu thủ sút bóng đi quá xa, ngoài tầm kiểm soát của đồng đội, đó thực sự trở thành một cơ hội tuyệt vời cho đối thủ.

Về cơ bản, một cầu thủ thiếu thận trọng tạo ra cơ hội cho đối phương bởi vì đồng đội của anh không thể ở vị trí thích hợp.


Áp dụng bóng đá vào kinh doanh và marketing như thế nào?

Một hệ thống – một đội hay một tổ chức – gồm những yếu tố phụ thuộc và ăn khớp với nhau, những yếu tố này cùng nhau tạo nên một tổng thể. Các hệ thống phục vụ một mục đích và thường được tạo nên từ những hệ thống phụ. Marketing và kinh doanh là những bộ phận của hệ thống kinh doanh, và bản thân chúng là những hệ thống phụ
Giữ cho hệ thống cân bằng là điều rất quan trọng nhằm tối ưu hóa hiệu quả hoạt động. Những yếu tố hoạt động quá mức chỉ làm cho hệ thống mất cân bằng, giống như những yếu tố quá yếu kém. Duy trì sự cân bằng giữa những bộ phận là một kỹ năng thực sự (đó là điều cho thấy tại sao các huấn luyện viên, CEO, và các CMO kiếm được tiền nhiều). Ở phương diện bên ngoài, điều đó có thể là duy trì sự cân bằng giữa công ty của bạn và khách hàng. Ở phương diện nội bộ, nó là đảm bảo đội ngũ marketing không vượt lên quá xa so với các bộ còn lại trong tổ chức.

Với nhiều tổ chức đang tất bật lên kế hoạch cho năm tới, đây là thời điểm tốt để nhắc nhở các marketer, bộ phận kinh doanh, phát triển sản phẩm, dịch vụ hoặc quản lý không nên đi quá xa so với các bộ phận khác.

Dưới đây là một vài ví dụ của việc Marketing “đưa bóng đi quá xa”:

* Một sản phẩm hay dịch vụ được giới thiệu trước các nỗ lực chuẩn bị nhằm đáp ứng các đơn đặt hàng cho sản phẩm mới được hoàn tất.

* Khi marketing triển khai các chương trình, trong đó tạo ra quá nhiều hướng dẫn cho đội ngũ bán hàng xử lý.

* Khi bộ phận marketing và bán hàng đưa ra quá nhiều cam kết về chất lượng và lợi ích của sản phẩm khiến bộ phận phát triển không thể đảm bảo những cam kết đó.

Khi tình trạng này xảy ra, những cơ hội thực sự có thể khô héo và biến mất,khách hàng tốt và nhà phân phối có thể sẽ bỏ bạn mà đi.

Chúng ta có thể mượn giải pháp cho những kịch bản như thế từ bóng đá

Hãy nhớ rằng mục tiêu là đảm bảo mọi người đến trái bóng cùng thời điểm, điều này cần sự sắp xếp từ trước và đồng bộ hóa. Một cầu thủ và 10 người còn lại cần hợp tác với nhau, nếu không thì tất cả sẽ di chuyển một cách mù quáng trên sân.

Trong bóng đá, có một cách để đạt được mục tiêu, đó là gia tăng thời gian bóng ở trên không, nhằm cho phép những cầu thủ còn lại đủ thời gian để vào đúng vị trí. Những kỹ thuật khác liên quan đến chuyền bóng, cần sự truyền đạt rõ ràng vị trí bóng sẽ đến, chẳng hạn như cánh phải, bởi vậy các cầu thủ còn lại trên sân sẽ biết để mà di chuyển sang phải.

Trong kinh doanh, chúng ta có thể ứng dụng một vài ý tưởng tương tự


Chẳng hạn, trước khi tung một sản phẩm hay dịch vụ mới ra thị trường, tạo ra một đội ngũ đặc biệt cho việc ra mắt bao gồm các đại diện đến từ bộ phận Kinh Doanh, Dịch Vụ Khách Hàng, IT, Phát Triển Sản Phẩm, Marketing, Media/PR để tất cả đều biết mục tiêu của đợt tung sản phẩm này.

Làm việc để đảm bảo tất cả mọi người đều sẵn sàng hỗ trợ hoạt động ra mắt sản phẩm và có thời gian để chuẩn bị. Mọi thứ nên rõ ràng với tất cả mọi người trong đội, chẳng hạn như mục tiêu marketing, phân khúc mới hay một phân khúc cụ thể nào đó để tất cả có chung một định hướng.

Huấn luyện viên có nhiệm vụ đảm bảo cự ly đội hình và mức độ bao phủ toàn sân cao. Người đứng đầu bộ phận marketing cần đảm bảo marketing được đồng bộ, đồng thời đảm bảo bộ phận Kinh Doanh và Phát Triển Sản Phẩm luôn sẵn sàng và có thể tận dụng được những cơ hội do Marketing tạo ra.

Các đội bóng tập luyện liên tục. Họ kiểm soát cuộc chơi và các kịch bản khác nhau trong trận đấu. Đối với kinh doanh, điều đó có nghĩa là cần có những quy trình được lên kế hoạch phù hợp – nhằm quản lý hoạt động ra mắt sản phẩm và dịch vụ, đánh giá và lựa chọn định hướng, tạo ra sự ăn khớp giữa trông đợi trong nội bộ và bên ngoài.
Chẳng hạn, công ty của bạn có thể cần một quy trình ghi bàn mang tính định hướng nhằm quyết định lựa chọn đâu là cơ hội có thể tiếp cận ngay lập tức, đâu là cơ hội chưa thể tiếp cận ngay được. Không có quy trình rõ ràng cho việc ghi bàn, đội ngũ kinh doanh của bạn có thể thực hiện một phương pháp tiếp cận “Hãy đợi xem thứ gì rớt ra từ trên cây”, đó là một khoảng thời gian vô vị và có thể dẫn đến những lựa chọn nghèo nàn khiến doanh thu suy giảm.
Về những môn thể thao đồng đội, tất cả là sự truyền đạt. Quan trọng là tổ chức của bạn có quy trình để đảm bảo rằng, việc giao tiếp với nhau và những mong đợi dành cho nhau giữa các bộ phận Marketing, Kinh Doanh, Phát Triển Sản Phẩm được rõ ràng. Cuối cùng, tay phải và tay trái phải hoạt động đồng bộ, nếu không bạn sẽ bỏ lỡ những cơ hội của mình.

Áp dụng qui luật loài kiến vào kinh doanh [Ceo HCM]

Nhà bác học đồng thời là nhà sáng lập ra Cty tư vấn DN Bios Group Inc. S T Kauffman phân tích rằng, môi trường kinh doanh giống như thế giới thiên nhiên, trong đó có những quá trình thay đổi liên tục.
Ứng dụng qui luật của loài kiến trong kinh doanh…

Bước đột phá của Bios Group Inc là áp dụng quy luật của loài kiến rất thành công vào việc kinh doanh tại nhiều tập đoàn lớn. Theo S T Kauffman, sự phát triển và cạnh tranh của các nền kinh tế luôn vận động và có những phức tạp như thế giới tự nhiên.
Ông cho rằng, chính những hệ thống thông tin cực kỳ tinh vi trong thế giới tự nhiên là một kho tàng quý giá cho các nhà kinh tế. Các sinh vật biến hoá như thế nào để thích nghi với tự nhiên thì con người đều như vậy.
F Moula, chuyên gia tư vấn cao cấp của công ty tư vấn Gemini Ernst & Young cho rằng, các loài chim mỗi khi lạnh là chúng tìm đến các địa điểm của phương Nam nhằm tránh rét, mỗi năm một khác là nhờ chúng có các hệ thống phân tích thông tin cực tinh vi.
Hiện tượng này cũng thấy rõ ở cả loài kiến, các thành viên của kiến có thể thông tin cho nhau mau lẹ trên phạm vi rộng lớn từ đường đi tới phạm vi hoạt động …của chúng trong khi kiếm ăn và tìm bạn đời.

Gợi ý của đàn kiến
Nhờ thuật toán của loài kiến các nhà quản lý doanh nghiệp tìm ra giải pháp tối ưu cho những biến động trong tương lai. Đây là phương án tối ưu cho các doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực phức tạp và đầy biến động, tiêu biểu trong số này là nhiều hãng vận tải lớn của Mỹ. Họ là những doanh nghiệp lớn vận tải bằng các phương tiện với các phương thức phức tạp.
Các doanh nghiệp này có quan hệ với bạn hàng lên tới hàng triệu người và các công ty cung ứng hàng hoá. Đặc trưng của loại kinh doanh này là khó tính được những hậu quả khôn lường. Chính vì vậy, sự hoạt động nhịp nhàng của các bộ phận trong công ty tựa như những con kiến trong một đàn.
Để làm được điều này, Bios Group Inc trước khi đi vào hoạt động đã phải xây dựng thuật toán của công ty tựa như sự hoạt động của các đàn sinh vật trong tự nhiên. Dựa vào đầu óc của các chuyên gia cũng như việc phân tích của máy tính chuyên ngành các nhà khoa học đã đưa ra được phương pháp tối ưu trong kinh doanh nhằm ngăn chặn được những rủi ro lớn bất ngờ gây ra.
Tăng uy tín, giảm rủi ro
Nhìn từ góc độ thế giới tự nhiên và sự phát triển của doanh nghiệp cho thấy, các doanh nghiệp luôn mô phỏng những hành vi của loài kiến trong việc ứng phó với tình hình, trao đổi khuếch tán thông tin để đạt hiệu quả cao nhất.
Việc mô phỏng mô hình trên đã giúp các công ty điều hành tốt hơn các chuyến bay vận chuyển và đặc biệt là đã làm giảm được 20% tổng chi phí. Đây là kết quả rất bất ngờ và khích lệ. áp dụng mô hình của loài kiến đã giúp công ty luôn có được phương án hoàn thiện trong khâu phục vụ khách hàng, thông báo được những tình huống xấu có thể xảy ra đối với các bạn hàng của công ty.
Trong thời gian gần đây, thuật toán của loài kiến trong kinh doanh đã được nhân rộng ra trên thế giới trong đó có ngành bưu chính Đan Mạch. Người ta đã phát triển cho ngành bưu chính Đan Mạch hai chiến lược: xây dựng trên toàn quốc các trung tâm phát hành bưu kiện để đạt được tối ưu các loại hình dịch vụ mới nhằm đem lại lợi nhuận cao. Nhờ đó mà việc vận chuyển các bưu kiện và thư tín cho nhiều nơi luôn đạt những điều tối ưu nhất.
Không chỉ có thế, công ty Unilever cũng đã áp dụng một số thuật toán trong các cơ sở sản xuất của mình nhằm xây dựng chiến lược dài hạn trong các công trình sản xuất cũng như lường được những nguy cơ biến động của thị trường. Các chuyên gia cũng đã phải thừa nhận rằng, thuật toán của loài kiến đã đưa ra được những lời cảnh báo khá hữu hiệu và chính xác những trục trặc hay hỏng hóc trong quá trình sản xuất dựa trên việc loài kiến có các đối sách khi trên đường đi của chúng bất ngờ gặp chướng ngại vật.
Hiện nay, tại New York, mô hình điều hành việc mua bán cổ phiếu theo nhiều tình huống khác nhau đáp ứng được tình huống khác nhau trên thị trường chứng khoán cũng đã áp dụng thuật toán sinh hoạt của nhiều loài động vật. Sử dụng thuật toán của loài kiến mô phỏng sự hoạt động của các sinh vật trong thiên nhiên chỉ là một trong những phát kiến có những đột phá của công ty Bios Group Inc.
Hiện nay, công ty đang tập trung xây dựng mô hình quản lý hoàn toàn mới, mô hình "doanh nghiệp thích nghi". Đây là mô hình cho phép doanh nghiệp nhanh chóng thích nghi với những biến động bất ngờ, không theo quy luật trên thị trường. Sự sinh tồn của doanh nghiệp gắn liền với quy luật của thiên nhiên sẽ đem lại hiệu quả cao cho bất kỳ giới lãnh đạo doanh nghiệp nào biết ứng dụng.

Ấn tượng đồng hồ đeo tay không kim hiệu ZERO [doanhnhansaigon.vn]

Đúng như tên gọi của mình, chiếc đồng hồ ý tưởng mang tên ZERO này không hề có bất kỳ nút điều chỉnh cũng như kim giờ, kim phút nào. Nó hoạt động theo một phương pháp hoàn toàn mới thay vì sử dụng kim chỉ giờ như các đồng hồ truyền thống khác.

Đây là ý tưởng của nhà thiết kế Robert Dabi, rất ấn tượng và khác lạ. Thay vì sử dụng kim giờ và kim phút, ZERO sử dụng hai đĩa xoay, một chỉ giờ và một chỉ phút (vòng trọn đậm bên trong là kim giờ, vòng nhỏ bên ngoài là kim phút). Nó trông giống một chiếc vòng đeo tay hơn là đồng hồ bởi thiết kế thời trang và không có nút bấm của nó.
Một điểm khá bất tiện của ZERO đó là bạn khó có thể biết chính xác thời gian theo từng phút vì trên đồng hồ không có bất cứ con số hiển thị nào, chỉ là ước lượng. Tuy nhiên, nếu thành hiện thực, ZERO sẽ cuốn hút người dùng bởi thiết kế thời trang và cách hoạt động ấn tượng của nó.

Mì gói...thị trường đang bùng nổ [dantri]

Mì ăn liền tấn công vào hầu hết các kênh phân phối, từ các siêu thị hiện đại cho đến những tiệm tạp hóa nhỏ, từ thành thị đến nông thôn. Có thể nói hầu như bất cứ người tiêu dùng Việt Nam nào cũng dùng sản phẩm này dù ít hay nhiều. Và 5 tỉ gói mì ăn liền đang lưu thông trên thị trường là một con số hấp dẫn đối với các nhà kinh doanh.
Công ty Nghiên cứu Thị trường Euromonitor công bố mức tăng trưởng của thị trường mì ăn liền tại Việt Nam năm 2008 là 20%, đạt giá trị đến 5.754 tỉ đồng và kết luận “thị trường này đang bùng nổ”.
Trong khi đó, một công ty nghiên cứu thị trường hàng đầu thế giới khác (không muốn nêu tên) còn đưa ra con số lớn hơn nhiều, khoảng 8.000 tỉ đồng. Công ty này cũng dự báo trong tương lai gần, tốc độ tăng trưởng của thị trường này sẽ tiếp tục duy trì ở mức 15-20%/năm và nhanh chóng đạt giá trị bình quân 10.000 tỉ đồng/năm (các con số được đưa ra trong bài viết sẽ dựa trên khảo sát của công ty nghiên cứu thị trường này).
SÔI ĐỘNG
Mì ăn liền là loại hình kinh doanh triệu USD, chỉ dành cho những nhà đầu tư chịu được đầu tư đường dài. Một dây chuyền sản xuất mì ăn liền theo công nghệ châu Âu “ngốn” khoảng 20 triệu USD, mà một công ty quy mô vừa cũng phải đầu tư vài dây chuyền mới tạo sản lượng đủ để cạnh tranh. Thế nhưng, dù với mức đầu tư như vậy, vẫn có không ít nhà đầu tư tham gia.
Hiện nay, có gần 50 doanh nghiệp với nhiều quy mô khác nhau tham gia vào lĩnh vực này, sản xuất ra 5 tỉ gói mì/năm. Dự kiến con số này sẽ là 6-7 tỉ gói trong 3 năm tiếp theo. Mì ăn liền nói chung được phân chia thành 2 nhóm sản phẩm: gốc mì (mì đóng gói) và gốc gạo (miến, bún, phở, cháo đóng gói). Bài viết này chỉ đề cập đến nhóm “gốc mì”.
Thị phần mì ăn liền gốc mì đang nằm trong tay 5 nhà sản xuất lớn và được chia sẻ không mấy đồng đều: Acecook Vietnam (khoảng 55%), Asia Food (khoảng 15%), Vifon (khoảng 15%), Masan (khoảng 10%), Saigon Ve Wong (khoảng 5%). Còn lại một thị phần rất nhỏ chia đều cho các doanh nghiệp cả mới lẫn cũ, trong nước và nước ngoài. Tuy nhiên, ở nhóm này, vẫn có những doanh nghiệp tiềm năng như Uni-President, Miliket, Micoem.
Hầu hết các “ông lớn” trong “top 5” kể trên đều có năng lực phủ rộng thị trường cả nước (Acecook Vietnam, Masan, Saigon Ve Wong) hoặc “chiếm cứ” những thị trường được xem là trọng điểm (Asia Food ở miền Nam, miền Tây, miền Trung, Vifon làm mưa làm gió ở khu vực ngoại thành và nông thôn). Trong nhóm ngoài “top 5” thì Uni-President phủ toàn quốc, Miliket mạnh ở thị trường nông thôn, Micoem nổi tiếng ở miền Bắc và đang Nam tiến.
Từ việc xác định thị trường trọng điểm như vậy, mỗi nhà sản xuất đã có những chiến lược sản phẩm và giá cả khác nhau, có thể đúc kết thành 3 chiến lược chủ đạo.
Ở nhóm giá trung (2.000-3.000 đồng/gói) là hàng loạt các nhãn Hảo Hảo, Hảo 100, Bốn Phương, Gấu Đỏ, Hello, Vifood... Ở nhóm giá cao (trên 3.000 đồng/gói) có Đệ Nhất, Lẩu Thái, Sumo, Osami… Về mặt sản phẩm, các nhãn này không có nhiều khác biệt. Cũng không thể đếm hết các nhãn hiệu tương tự, chủ yếu là của 2 nhà sản xuất Acecook Vietnam và Asia Food.
Hai đại gia này chọn chiến lược “tung nhiều nhãn để chọn lọc”, kinh doanh theo lối bán nhiều, tạo doanh số lớn. Theo thời gian, sẽ có những nhãn bị “rớt” khỏi đường đua bởi sự sàng lọc gắt gao của thị trường, như một quy luật tất yếu của chiến lược này.
Trong khi đó, thị trường đã bắt đầu xuất hiện, tuy còn ít, những nhãn sản phẩm giá cao và tạo được sự khác biệt. Đó là nhãn Tiến Vua (thuộc phân khúc giá trung, điểm nhấn của sản phẩm là “không dùng dầu chiên đi chiên lại nhiều lần”) hoặc Omachi (phân khúc giá cao với thông điệp “rất ngon mà không sợ nóng”). Cả 2 sản phẩm này đều là của Masan.
Như vậy, khác với Acecook và Asian Food, Masan chọn lộ trình “ít nhãn nhưng khác biệt”. Đây cũng chính là chiến lược của các nhà kinh doanh mì Trung Quốc khi họ phải đối phó với đại gia Nissin (Nhật Bản) tại quốc gia họ. Các nhà kinh doanh mì ăn liền Trung Quốc đưa ra khá nhiều sản phẩm mới có giá trị dinh dưỡng cao để xóa bỏ định kiến mì ăn liền không có lợi cho sức khỏe và hiệu quả thu về khá tốt. Thực tế, những sản phẩm mì ăn liền có doanh số cao nhất ở Trung Quốc là những sản phẩm được quảng bá là có lợi cho sức khỏe. Gần đây, tại Việt Nam, theo sau Masan, Asian Food cũng bắt đầu tung ra nhãn Osami làm từ đậu Hà Lan tốt cho sức khỏe.
Song song với các nhãn giá trung và cao, mì ăn liền giá thấp vẫn đang được tiêu thụ khá tốt, nhất là ở thị trường nông thôn. Vifon là một ví dụ.
Vifon chọn chiến thuật “ít nhãn, giá thấp và hướng đến thị trường rộng hơn”. Dù đang dần bị lãng quên ở thành thị, các sản phẩm gốc mì nhãn hiệu Vifon (cũng là tên công ty) có giá dưới 2.000 đồng/gói được tiêu thụ khá tốt ở thị trường nông thôn. Vifon cũng tấn công ra thị trường thực phẩm đóng gói rộng hơn với các sản phẩm gốc gạo (cháo, miến, phở đóng gói) và nhanh chóng giành 50% thị phần ở thị trường này.
Còn lại nhóm ngoài “top 5” gồm Saigon Ve Wong và Micoem dường như không chọn bất kỳ chiến lược nào kể trên. Họ chọn phân khúc giá cao cho các sản phẩm A-one, Cung Đình nhưng chưa thấy sự khác biệt (trong khi đó, trên thị trường mì ăn liền, phân khúc giá trung vẫn chiếm xấp xỉ 80% thị phần, sản phẩm giá thấp và cao chỉ khoảng 20%).
Giành từng tấc đất
Không chỉ quyết liệt trong cuộc đua sản phẩm và giá cả, các nhà kinh doanh còn giành từng “tấc đất” trên “mặt trận” phân phối. Và đối với mặt trận này, các nhà sản xuất mì ăn liền đang áp dụng 2 chiến lược chính.
Hai “đại gia” dẫn đầu thị trường là Acecook Vietnam và Asia Food phân phối theo hệ thống đại lý (bán sỉ). Hai doanh nghiệp này chọn ra nhiều nhà bán sỉ (đại lý cấp 1) và nhiệm vụ của các nhà bán sỉ này là phân phối xuống các nhà bán sỉ cấp dưới rồi phủ đến các tiệm bán lẻ. Khi khách hàng có nhu cầu, các tiệm bán lẻ sẽ báo lên các nhà bán sỉ và 2 doanh nghiệp này sẽ cung cấp sản phẩm theo hình thức bán đứt. Ưu điểm của kiểu phân phối này là vốn đầu tư không cao, phù hợp với những thương hiệu mạnh, được thị trường ưa chuộng. Tuy nhiên, nếu có bất kỳ sự cố nào xảy ra với sản phẩm (chẳng hạn chất lượng sản phẩm có vấn đề), chắc chắn khả năng đẩy hàng xuống các cấp phân phối của nhà sản xuất sẽ bị ảnh hưởng. Mặt khác, do phân phối theo nhu cầu nên sản phẩm đến tay người tiêu dùng sẽ có lúc nhanh, lúc chậm.
Trong khi đó, Masan lại chọn hướng ngược lại là phân phối bán lẻ, theo cách của Unilever, P&G. Công ty này tập trung vào một số nhà bán lẻ tốt nhất, có khả năng bao phủ thị trường trên diện rộng. Với cách làm này, Masan phải đầu tư khá lớn. Nhưng bù lại, do không phải chờ đến khi có nhu cầu mới cung ứng nên khả năng đẩy hàng của Masan có thể nhanh hơn các đối thủ.
Rõ ràng, đối với các sản phẩm tiêu dùng nhanh như mì ăn liền, chọn kênh phân phối hợp lý là điều kiện tiên quyết để giải bài toán đầu ra. Và phân phối cũng chính là trận chiến khốc liệt nhất đối với các nhà sản xuất mì ăn liền, nhất là những gương mặt mới, ngay cả đó là một đại gia nước ngoài có tài lực mạnh.
Uni-President là một minh chứng cho điều này. Vốn là tập đoàn thực phẩm tên tuổi của Đài Loan, Uni-President vào Việt Nam với nhãn hiệu mì ăn liền Unif. Uni-President đầu tư khá kỹ lưỡng cho sản phẩm (lắp đặt nhiều dây chuyền sản xuất theo công nghệ châu Âu) và marketing khá “hoành tráng” như tài trợ 300.000 USD cho Seagames 22, mời đầu bếp nổi tiếng Yan Can Cook làm người bảo trợ cho nhãn hiệu mì Vua Bếp của họ với kinh phí không dưới 200.000 USD. Một cuộc khảo sát được thực hiện trên 500 người tiêu dùng ở Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng do một công ty nghiên cứu thị trường uy tín thực hiện năm 2007 cho thấy, Unif cũng được nhiều người tiêu dùng biết đến (cứ 10 người được hỏi thì 5 người biết). Nhưng tại sao từ năm 2003 đến nay Unif vẫn chưa thực sự bức phá? Nguyên nhân có lẽ là Uni-President đã chậm chân trong cuộc đua phân phối.
Là kẻ đến sau, Uni-President lại chọn cách phân phối bán sỉ (vốn đã là lựa chọn của 2 đại gia dẫn đầu thị trường) nên dù được đầu tư mạnh về vốn, công nghệ và tiếp thị, Unif vẫn chưa thể có một cuộc mở rộng thị phần ngoạn mục. Trường hợp của Unif cũng gợi nhớ đến câu chuyện bia Laser một thời tiếp thị hoành tráng nhưng rồi cũng bị “xóa sổ” vì bị “khóa” kênh phân phối.
Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa trên thị trường này vai trò của tiếp thị bị phủ nhận. Ngược lại, đối với thị trường mì ăn liền, hoạt động tiếp thị đang thể hiện sức mạnh dẫn dắt.
ĐUA QUẢNG CÁO
Tuy thị phần của Asian Food cao hơn Masan nhưng sản phẩm Osami “đậu Hà Lan” của Asian Food vẫn chưa thể qua mặt Omachi “khoai tây” của Masan, dù 2 sản phẩm này ra đời gần như cùng thời điểm.
Cũng trong cuộc khảo sát 500 người tiêu dùng nói trên, cứ 10 người được khảo sát thì có khoảng 7 người biết đến thương hiệu Omachi (qua quảng cáo) và gần 5 người đã dùng qua, trong khi chưa đến 2 người biết đến Osami. Đó chính là sức mạnh của tiếp thị.
Hiện nay, các nhà sản xuất dẫn đầu thị trường vẫn là những đại gia chi “bạo tay” nhất cho tiếp thị, đặc biệt là quảng cáo. Theo thống kê không chính thức của một công ty nghiên cứu thị trường, chỉ riêng 3 thương hiệu Hảo Hảo, Hảo 100 (của Acecook Vietnam) và Gấu Đỏ (của Asia Food) đã chiếm gần 50% ngân sách quảng cáo của ngành này. Masan cũng chi hàng triệu USD cho chiến lược quảng cáo thương hiệu Omachi (từ tháng 5.2007 đến Tết Âm lịch năm 2008).
Tuy nhiên, giữa lúc các kênh truyền hình liên tục được lấp đầy bởi những đoạn phim quảng cáo mì ăn liền của các đại gia thì vẫn có những nhãn hiệu chẳng thấy quảng cáo gì cũng vẫn “sống khỏe”, như Miliket chẳng hạn. Câu trả lời hợp lý nhất cho điều này có lẽ chính là lịch sử phát triển của nhãn hiệu. Ra đời từ năm 1988, Miliket (được đựng trong bao giấy có hình 2 con tôm) đã gắn liền với khái niệm “mì tôm” trong nhận thức của phần lớn người tiêu dùng Việt Nam. Qua thời gian, thương hiệu này đã tích lũy được một lượng người tiêu dùng đủ lớn để tạm “sống khỏe”. Tuy nhiên, tương lai của họ sẽ thế nào khi các nhãn hiệu mì ăn liền mới liên tục ra đời và các đối thủ thì không tiếc tiền đổ vào cuộc chơi quảng cáo?
Chiến lược phát triển của Miliket có nhiều điểm tương đồng với Vifon: sở hữu thương hiệu lâu đời, giá thấp (xấp xỉ 1.000 đồng/gói), ít quảng cáo nhưng có đầu ra khá tốt là thị trường nông thôn với lượng khách hàng trung thành. Miliket cũng đang mở rộng sang sản xuất những sản phẩm gốc gạo (bún, miến, phở ăn liền), tương tự như Vifon.
Câu chuyện xuất khẩu
Trong lúc thị trường nội địa cạnh tranh khốc liệt như vậy, nhiều doanh nghiệp “hàng top” đã tìm đến con đường xuất khẩu để gia tăng doanh số và lợi nhuận.
Hiện tại, Acecook Vietnam, Vifon, Asian Food, Miliket… chủ yếu xuất khẩu vào một số thị trường dễ vào được, chủ yếu là Campuchia (Acecook Vietnam và Asian Food chiếm gần 2/3 thị trường này) và Đông Âu (Vifon). Tuy nhiên, doanh thu từ xuất khẩu cũng chỉ chiếm chưa đến 10% tổng doanh thu của mỗi doanh nghiệp.
Trong khi đó, một số thị trường lớn giàu tiềm năng như châu Âu, Mỹ, Mexico lại không dễ vào. Các thị trường này đã có các “đại gia” quốc tế, chủ yếu là Nissin và Maruchan (Nhật), Nongshim (Hàn Quốc), chiếm đóng. Đó là chưa kể đến những khó khăn cơ bản khác như vấn đề thu hồi công nợ, quản lý các nhà phân phối tại thị trường đó.
Tuy nhiên, theo một doanh nghiệp (không muốn nêu tên) đã từng xuất khẩu sang Mỹ với giá trị khoảng 2 triệu USD trong năm 2008, doanh nghiệp sản xuất mì ăn liền của Việt Nam đã khôn khéo hơn trong việc chọn lọc đối tượng tiêu dùng để tránh rủi ro. Chẳng hạn, vào Mỹ, nếu không có khả năng phục vụ cho 250 triệu người Mỹ như Nissin, doanh nghiệp có thể “đánh” vào đối tượng Việt kiều hoặc người Mexico tại Mỹ (đây là hai nhóm đối tượng tiêu dùng đông, có khẩu vị hợp với nhiều sản phẩm mì ăn liền Việt Nam). Dù vậy, doanh nghiệp này vẫn cho rằng, thị trường nước ngoài cần thời gian chinh phục, trong khi chiếc bánh thị phần nội địa vẫn còn rất màu mỡ.
Theo thông tin chúng tôi có được, sắp tới, sẽ có ít nhất 2 nhà đầu tư mới nhảy vào thị trường này. Cuộc đại chiến mì ăn liền sẽ thêm phần khốc liệt! Câu hỏi “Ai sẽ thắng?” chưa thể có câu trả lời, nhưng trước mắt, kẻ thắng không phải một ông lớn nào trong ngành mà chính là người tiêu dùng, những người đang liên tục được phục vụ bằng các sản phẩm mì ăn liền có lợi cho sức khỏe với giá cạnh tranh.

Làm thế nào để chọn được phần mềm Email Marketing tốt [vnemar]

Điều đầu tiên khi chọn phần mềm cho chương trình email marketing, bạn nên định hướng trước là bạn sẽ tự làm một mình hay là giao cho một bộ phận chuyên trách. Bạn có thể thực hiện cả hai cách trên bởi vì điều đó hoàn toàn có thể, nhưng khi chọn một cách bạn phải chắc chắn là nó sẽ hiệu quả. Bạn không hề muốn thử lần lượt từng chiến lược marketing nêu ở trên để rồi phát hiện ra rằng nó không hiệu quả, bởi vì làm như vậy chỉ gây tốn thời gian và tiền của.

Trong trường hợp bạn được giao phó những công việc quan trọng hơn việc thực hiện một chiến dịch quảng cáo qua email, thì tốt nhất bạn nên đánh cược bằng cách giao công việc quan trọng này cho một bên thứ ba. Hãy chắc chắn rằng bên thứ ba mà bạn giao phó có đủ sự thành thạo, kinh nghiệm và chuyên môn đối với loại công việc như thế này.

Tự thực hiện chiến dịch và lựa chọn phần mềm email marketing có thể mang lại cho bạn nhiều lợi ích. Đầu tiên là bạn có thể kiểm soát toàn bộ công việc của mình và cách thực hiện nó. Bạn có thể phát hiện ra và làm theo cách mà bạn thấy tốt nhất bởi vì không ai hiểu rõ công việc bằng chính bạn. Đồng thời khi tự thực hiện, bạn còn có thể linh hoạt lựa chọn những gì đúng đắn nhất cho công việc của mình. Nếu bạn thực hiện trực tiếp bạn sẽ khám phá ra rằng nó rẻ hơn là khi giao cho một bên thứ ba.

Bởi vì có rất nhiều công ty cung cấp các phần mềm trong lĩnh vực kinh doanh, cho nên để tìm ra được một phần mềm thích hợp thì cũng phải mất một khoảng thời gian.

Sau đây mà một vài thủ thuật cơ bản để bạn có thể tìm ra được phần mềm thích hợp cho mình:

1. Bạn có thể sử dụng các phần mềm miễn phí, và cho dù là phần mềm miễn phí hay phần mềm thương mại thì khi chọn lựa bạn cũng phải chắc chắn là nó đáp ứng được yêu cầu chuyên môn của công việc của bạn. Bạn có thể sử dụng các phần mềm có thật nhiều chức năng trong cùng một mảng công việc, nhưng hãy cẩn thận và kiểm tra kỹ càng bởi vì chưa chắc nó đã là công cụ tốt nhất khi sử dụng vào công việc của bạn một cách chi tiết. Hơn nữa phần mềm có nhiều chức năng thường rất khó sử dụng.

Email marketing được chia ra làm nhiều khâu: thu thập địa chỉ email, quản lý chúng, viết/gửi email và kiểm tra kết quả. Vì vậy tốt nhất là hãy chọn một phần mềm chỉ tập trung vào email marketing.

2. Chọn phần mềm mà có thể sử dụng kết hợp với các phần mềm và dịch vụ email marketing khác.

3. Chọn phần mềm trực tuyến thì tốt hơn cho bạn. Vì có thể dễ dàng sử dụng trên máy tính hiện thời của bạn cũng như hầu hết các máy tính khác, lý do đơn giản là bạn không hề biết khi nào bạn sẽ phải đổi máy tính. Hãy chắc chắn rằng bạn không cần bất cứ một chương trình hay phần cứng hỗ trợ nào khác để phần mềm của bạn có thể chạy ổn định.

4. Một phần mềm khi sử dụng cho chiến dịch email marketing được đánh giá là tốt khi nó cho phép bạn tạm dừng hoặc ngừng kết nối với chương trình. Có thể trong lần thực hiện đầu tiên bạn sẽ nghĩ rằng điều này không quan trọng, nhưng khi chiến dịch marketing của bạn phát triển, bạn sẽ nhận ra chức năng này quan trọng tới mức nào.

5. Email marketing thì không ngừng phát triển và mở rộng, cho nên phần mềm mà bạn lựa chọn phải có khả năng bắt kịp sự phát triển đi lên không ngừng đó. Đây cũng chính là lý do tại sao bạn nên mua phần mềm từ những công ty chuyên về lĩnh vực email-marketing như vinaContact, constantContact, mailermailer,...

Nếu một công ty phần mềm cho bạn dùng thử sản phẩm của họ thì bạn hãy dùng thử. Thời gian dùng thử này sẽ giúp bạn làm quen và xác định xem có phù hợp với bạn không. Bên cạnh đó, đọc những bài đánh giá về nhiều phần mềm khác nhau sẽ giúp bạn có được dấu hiệu để tìm ra phần mềm thích hợp mà bạn muốn.

Hy vọng bài viết này sẽ có ích cho chiến lược marketing của bạn. Chúc may mắn!

Làm sao để có thể lấy email từ mạng internet phục vụ cho marketing?


Email là một kênh quan trọng trong internet marketing. Nhờ nó, doanh nghiệp có thể gửi những thông tin chăm sóc khách hàng, có thể thực hiện kết nối và giữ liên lạc với khách hàng dễ dàng.

Nhưng làm thể nào để tạo dựng được những danh sách email chất lượng và đúng đối tượng marketing thì không phải ai cũng biết. Dù điều này cực kỳ quan trọng trong kinh doanh.

Dưới đây, chúng tôi xin giới thiệu một số cách phổ thông và hợp pháp để bạn có thể lấy được email khách hàng và thực hiện chiến dịch email marketing rất căn bản:

Đầu tiên, dễ nhất, hãy hỏi luôn họ.

Khi họ mua hàng hay khi khách hàng của bạn hỏi thăm dịch vụ hay sản phẩm của doanh nghiệp của bạn, bạn hay hỏi họ có thể cung cấp email cho bạn được không và bạn sẽ gửi những thông tin khuyến mãi hay mô tả sản phẩm, giá cả mới nhất đến cho họ. Nhiều người sẵn sàng cung cấp email. Nhưng nếu họ nói họ không muốn, bạn cũng đừng nài ép.

Nếu hỏi email, bạn nên hỏi luôn cả số điện thoại và thông tin khác như tuổi, nghề nghiệp của họ. Điều này chỉ mang lại lợi ích cho chiến dịch marketing của bạn mà thôi. Thậm chí có nhiều doanh nghiệp nghiên cứu thị trường khác sẽ sẵn sàng bỏ tiền ra để mua lại cơ sở dữ liệu mà bạn có được.

Mỗi lần hỏi, chỉ mất vài giây thôi, nhưng lợi ích mang lại có thể sẽ không ngờ tới.

Làm một form đăng ký thông tin trên trang web của bạn

Nếu như bạn đang quản lý một trang web, hãy cố gắng lôi kéo người dùng vào trang của bạn, trên trang web đó, hãy đặt những form đăng ký thông tin khách hàng. Nhớ là cần yêu cầu họ điền cả thông tin email, số điện thoại, nghề nghiệp và những gì họ đang quan tâm vào đó nhé.

Những cái web form sẽ làm cho website của bạn trở nên chuyên nghiệp hơn. Khách hàng cũng sẽ cảm thấy họ được quan tâm hơn và có thể sẽ trông chờ email của bạn gửi tới họ.

Bạn nên suy nghĩ về các form kiểu pop up. Nếu đối tượng khách hàng của bạn thích popup thì chỉ hiện popup cho lần truy cập đầu tiên, còn nếu họ ghét popup thì bạn nên để nó sang một trang riêng hoặc là một phần ở thanh menu bar bên cạnh nội dung của bạn.


Có thể form của bạn quá dài dòng và phải điền nhiều thứ thông tin lên đó. Lúc này, nên cắt nó ra thành nhiều trang con. Nhưng rất có thể bạn sẽ chẳng thu được gì nếu yêu cầu hò điền vào một form quá dài dòng.

Tạo ra một công cụ gửi postcard qua email miễn phí

Một cách rất hay. Hình dung rằng, mỗi người gửi postcard họ có thể gửi cho nhiều người khác, vậy là bạn đã có một cơ sở dữ liệu mail phong phú cho chiến dịch của mình.


Điền email để nhận link những thứ miễn phí hữu ích
Bạn có thể cung cấp hàng loạt những thứ miễn phí, nhưng họ phải để lại email, đây cũng có thể là một trong số những cách lấy email hiệu quả vô cùng.

Ví dụ khi khách hàng để lại mail, bạn sẽ cung cấp cho họ một coupon giảm giá tại một số cửa hàng. Coupon đó chỉ dùng 1 lần cho 1 email mà thôi.

Tạo ra những chữ ký link tới form đăng ký qua email

Khi họ click vào chữ ký của bạn, một form đăng ký hiện lên và yêu cầu họ cung cấp email. Sau đó, họ mới có thể vào xem trang web đó được.

Cách này có thể sẽ gây khó chịu và phản cảm.

Làm quảng cáo trên mọi thứ mà bạn in ra

Hãy nói với khách hàng mọi lúc mọi nơi rằng: "hãy gửi mail cho chúng tôi".
Nhưng nếu quảng cáo, nó sẽ rất tốn kém và bạn nên cân nhắc.

Thu thập email từ các trang mạng xã hội

Ngày nay, mọi trang mạng xã hội đều dùng email để đăng ký, bạn có thể chỉ cần export email trong danh sách friends của mình ra dạng email là đã có một lượng email rất phong phú rồi.

Có thể còn nhiều cách khác nữa, nếu bạn biết, hãy chia sẻ thêm nhé

Thế nào là một slogan thành công? [doanhnhan360]

Thế nào là một slogan thành công?
Slogan là yếu tố không thể thiếu trong kinh doanh hiện đại, bởi một câu ngắn gói gọn vài từ lại có sức mạnh thu hút khách hàng và xây dựng thương hiệu.

Khác biệt giữa một slogan độc đáo và một slogan tệ có thể là khác biệt giữa một công ty đứng nhóm trên và một công ty đang trên đường phá sản.

Do vậy, điều quan trọng là hiểu được các yếu tố hình thành nên một slogan hay:

1.Dễ nhớ:

Bạn có thể “vứt tiền qua cửa sổ” trong các chiến dịch quảng cáo nếu slogan không ở lại trong trí nhớ khách hàng. Nhiều slogan có nhạc điệu hoặc như một câu hát khiến người ta thích nghe và thích nhắc lại. Những slogan này nằm trong tiềm thức khách hàng. Nhiều DN làm được điều này, ví dụ: "Ngân hàng Kiên Long - sẵn lòng chia sẻ" hay "Sơn Nippon, sơn đâu cũng đẹp".

2. Hình tượng:

Slogan hình thành bằng từ ngữ chứ không phải hình ảnh, nhưng một slogan hay có thể tạo ra liên tưởng hình ảnh. Chính vì vậy, khẩu hiệu "Nâng niu bàn chân Việt" của Biti’s khiến sự liên tưởng rất thật; hoặc "Còn chút gì để nhớ" của cà phê Thu Hà lại đưa ký ức bạn về với những chấm phá của phố Núi, của Tây Nguyên...

3. Khác biệt:

Một slogan hay không những chỉ mang thông điệp đặc trưng của DN mà còn cho khách hàng biết lý do tại sao nên chọn sản phẩm hay dịch vụ của DN đó. Rất nhiều ví dụ được xem là gây ấn tượng mạnh như "Phong cách và phong cách" của An Phước và Pierre Cardin, hoặc "Giá rẻ cho mọi nha"ø của Big C hay "Vang Đà Lạt, vang của người Việt".

Ngược lại, khó có ấn tượng mạnh nếu slogan làm mọi người nhầm lẫn DN. Ví dụ: "Người bạn đồng hành tin cậy" dễ khiến khách hàng liên tưởng đến công ty vận tải hoặc du lịch hơn là của một ngân hàng.

4. Mời gọi tham gia:

Một trong những cách thể hiện sự hữu ích của slogan là nó khuyến khích khách hàng dùng sản phẩm hay dịch vụ mà công ty cung cấp. Nhiều ví dụ kinh điển trong trường hợp này gồm "Không thử sao biết?" của Coca-cola hay "Just Do It" của Nike...

Những slogan này rõ ràng có tác dụng khuyến khích khách hàng tiêu thụ sản phẩm. "Sử dụng cân Nhơn Hòa công bằng nhất", hay "Cả nhà đều thích" của Vissan cũng thuộc trường hợp này.

5. Thể hiện ưu thế:

Nếu muốn khách hàng sử dụng sản phẩm của bạn, tốt hết bạn nên cho biết lý do tại sao. Slogan "Cuộc sống tươi đẹp hơn" của Gạch Đồng Tâm giúp khách hàng nhận ra những tiện ích từ sản phẩm mà Công ty đang cung cấp. Hay slogan của EuroWindow: "Cửa sổ chống ồn, tiết kiệm điện" cho biết rất rõ lợi ích của sản phẩm...

10 xu hướng thiết kế logo năm 2010, bạn sẽ theo xu hướng nào? [thuonghieuviet]

10 xu hướng thiết kế logo năm 2010, bạn sẽ theo xu hướng nào?
Mỗi năm qua đi, những xu hướng thiết kế logo mới lạ và tràn đầy sức sống lại xuất hiện. Mặc dù công việc thiết kế không có 1 quy tắc cũng như quy định chung nào, nhưng kiểu cách và hướng thiết kề cho mỗi ngành nghề lại có những điểm tương đồng.

Tuy nhiên, việc phân loại chúng từ vô vàn những xu hướng đang thịnh hành trong xã hội không phải là chuyện dễ dàng.

Xu hướng thiết kế logo rất khó để có thể nắm bắt. Cứ mỗi năm trôi đi, xu hướng mới lại thay thế những cái cũ. 1 vài thiết kế mới sẽ trở thành kiểu mẫu trong năm, số khác sẽ bị lãng quên.

Sau khi phân tích tình hình trong quý đầu năm 2010, tôi đã tổng hợp được 10 xu hướng đang thịnh hành nhất trong năm. Mặc dù đây chỉ là những dự đoán và không ai dám chắc liệu chúng có thành sự thật hay không, nhưng đây chắc chắn là những xu hướng đáng lưu ý trong năm nay.

1. Các Logo dựa trên các khái niệm (Conceptual Logos)

Đây là xu hướng hàm chứa nhiều sự sáng tạo nhất, chúng là sự lựa chọn đầu tiên cho sự khởi đầu của các công ty. Những logo này ẩn chứa các thông điệp trong từng thiết kế thông qua những hình ảnh đặc trưng của mình. Sau chuỗi thành công của logo FedEx với 1 mũi tên tiềm ẩn, nhà thiết kế bắt đầu thêm vào những hình ảnh của công ty trong tác phẩm của mình.

2. Các Logo dạng chữ ký (Signature Logos)
Chữ ký hay logo thiết kế bằng tay đã phát triển nhanh chóng trở thành 1 xu hướng cực kỳ phổ biến. Những thiết kế thủ công tuy khá thô sơ nhưng rất thịnh hành trong thời đại ngày nay. Khi người tiêu dùng ý thức về các thương hiệu, các nhà thiết kế cũng dần tập trung vào các logo dạng chữ ký.

3. Logo 3D
Logo 3D nhanh chóng trở thành xu hướng đương thời, phổ biến và cực kỳ thịnh hành đối với các doanh nghiệp. Khi thế giới bước vào thế giới không gian 3 chiều tràn đầy sức sống, cái tên 3D Logo cũng có những bước phát triển vượt bậc.

4. Logo đơn giản hóa (Minimalism Logos)
Nghệ thuật đơn giản hóa, được phát triển từ những năm 1960, đã trở lại với thời đại. Những logo này được thiết kế bằng những hiệu ứng đồ họa tối thiểu và nhờ đó chúng ta có thể dễ dàng nhận biết những nội dung cũng như ý nghĩa bên trong chúng.

5. Logo với những cách viết trang trọng (Formal typeface Logos)

Xu hướng sử dụng những kiểu mẫu và định dạng ấn tượng trong tên gọi của thương hiệu lại 1 lần nữa nổi bật trong ngành thiết kế logo. Để khắc họa được sự thanh lịch, tao nhã và đẳng cấp của thực thể chủ đạo, những logo này được thiết kế với những hiệu ứng đầy sáng tạo.

6. Xu hướng cấy ghép nhiều dạng Logo (Hybrid design Logos)
Đây là 1 trong những xu hướng thông minh nhất tính đến thời đại hiện nay. Những logo này là sự tổ hợp của 2 hay nhiều xu hướng thiết kề. Việc sử dụng liên tục nhiều thiết kế cùng các hiệu ứng ánh sáng hoặc kết hợp tên gọi các thương hiệu với hiệu ứng không gian 3 chiều đã tạo ra 1 xu hướng thiết kế lạ mắt. Hay nói cách khác đây là sự trộn lẫn của nhiều xu hướng thiết kế.

7. Xu hướng thiết kế với nhiều họa tiết liên tục (Sequential Logos)

Xu hướng này chỉ mới được phát triển trong những năm gần đây nhưng đã nhanh chóng được nhiều nhà thiết kế chú ý. Chúng thể hiện nhiều cử động liên tục, nhiều bước, thể hiện sự thăng tiến và lớn mạnh của các công ty. Những mẫu logo này khó có thể lọt ra ngoài tầm với của xu hướng phát triển logo toàn cầu trong những tháng tới.

8. Những logo mang tính sinh thái (Eco SmartLogos)
Đây là xu hướng tiềm năng nhất được biết đến trên thế giới. Cùng với sự gia tăng những hiểu biết về môi trường sinh thái, các công ty ngày nay đã dần chuyển đổi các logo của mình theo hướng này nhằm tạo sự thân thiện hơn đối với môi trường, nâng cao trách nhiệm chung đối với xã hội. Và sản phẩm mới nhất của xu hướng này là logo của McDonald tại Châu Âu.

9. Logo thể hiện cảm xúc (Emotional Logos)

Những logo được thiết kế kèm theo những cảm xúc ngày càng nổi bật. Bởi người tiêu dùng hiện nay xem hàng hóa như những vật thể có tâm hồn. Những thương hiệu nổi tiếng đang cố gắng hòa quyện khách hàng của mình với những cung bậc tình cảm thông qua những logo này.

10. Logo có độ dốc (Gradient Logos)
Mặc dù xu hướng này còn gây nhiều tranh cãi, nhưng nó cũng đang dần trở nên phổ biến. Những mẫu logo này trong quá khứ bị chỉ trích vì chi phí in ấn quá đắt đỏ và khó thực hiện. Nhưng ngày nay, các nhà thiết kế đã chấp nhận sự thật rằng chiều sâu của chúng tạo cho thiết kế của họ vẻ ngoài chau chuốt và những nét mới lạ.

Bí quyết viết bản kế hoạch kinh doanh [doanhnhan360]

Bí quyết viết bản kế hoạch kinh doanh








Làm thế nào để viết được một bản kế hoạch kinh doanh hấp dẫn nhà đầu tư? Dưới đây là những kinh nghiệm mà Ban tổ chức cuộc thi muốn chia sẻ cùng bạn đọc.


Không nên xem nhẹ phần tóm tắt dự án

Phần tóm tắt dự án (Executive Summary) là một trong những phần quan trọng nhất của một kế hoạch kinh doanh. Đây sẽ là phần được đọc và phân tích đầu tiên bởi những người thẩm định, đồng thời cũng là nhà đầu tư tương lai.

Thử hình dung nếu bản kế hoạch kinh doanh của bạn nằm trong số hàng chục dự án đang kêu gọi đầu tư, thì yếu tố thu hút sự chú ý của người đọc ngay từ đầu đóng vai trò rất quan trọng. Các dự án có phần tóm tắt thuyết phục và rõ ràng sẽ lôi cuốn người đọc tiếp tục tập trung xem xét thêm các phần sau của dự án.

Thông thường phần tóm tắt dự án không dài quá hai trang chứa đựng những điểm chắt lọc, chủ yếu nhất của tất cả các phần còn lại của dự án. Trong phần tóm tắt, bạn nên đưa vào những con số tài chính mà theo bạn sẽ gây ấn tượng nhất đối với các nhà đầu tư về hiệu quả kinh doanh mà dự án mang lại.

Ngoài ra, phần này nên có thêm ba mục nhỏ gồm:

(i) Mục tiêu - Objectives: nêu ra những mục tiêu tài chính và phi tài chính mà dự án nhắm đến (doanh thu, tỷ suất lợi nhuận, hiệu quả sản xuất…).

(ii) Nhiệm vụ - Mission: những hình ảnh mà công ty muốn tạo ra đối với khách hàng, những giá trị mà dịch vụ/sản phẩm của công ty sẽ mang lại cho khách hàng, những cam kết mà công ty sẽ thực hiện...

(iii) Yếu tố thành công - Keys to success: những khác biệt mà công ty sẽ đem lại so với các đối thủ cạnh tranh, những yếu tố nhằm đảm bảo mục tiêu đưa ra sẽ đạt được.

Phần tóm tắt dự án nên được viết cuối cùng sau khi các phần khác của bản kế hoạch kinh doanh đã được hoàn thiện. Bởi vì lúc này người viết biết rõ dự án của mình có những điểm trọng yếu gì và sẽ dễ tóm tắt những gì mình đã viết ra hơn là tóm tắt những gì chưa được viết rõ ràng.


Đừng quá sa đà vào lĩnh vực chuyên môn của mình

Trong các bản kế hoạch tham gia dự thi, một trong những thiếu sót thường gặp nhất là người viết quá sa đà vào lĩnh vực chuyên môn của mình.

Chẳng hạn, nếu người viết có kinh nghiệm về tiếp thị kinh doanh thì mảng phân tích thị trường và nhu cầu sản phẩm của họ rất chi tiết, trong khi đó ở các phần dự đoán tài chính, nguồn vốn thực hiện dự án lại không được viết rõ ràng và mạch lạc, các quy trình kỹ thuật sản xuất, nguồn nguyên liệu đầu vào lại bị xem nhẹ.

Ngược lại, nếu người viết có kiến thức kỹ thuật chuyên môn về sản phẩm mình dự định cung cấp thì họ lại quá chuyên tâm về chi tiết kỹ thuật của sản phẩm mà không đánh giá được nhu cầu thị trường, các đối thủ cạnh tranh và phân khúc họ muốn nhắm vào.

Dù ý tưởng của bạn rất hay, nhưng khi viết bản kế hoạch kinh doanh, bạn đừng quên một nhân tố rất quan trọng: con người triển khai dự án - khả năng của đội ngũ quản lý điều hành. Đây chính là một trong những yếu tố thuyết phục nhà đầu tư bỏ vốn vào dự án của bạn. Chính vì thế mà trong bản kế hoạch kinh doanh, bạn nên có phần giới thiệu về khả năng và kinh nghiệm của người viết hoặc những người tham gia dự án, thay vì chỉ có một số thông tin về sơ đồ tổ chức của dự án và mức lương dự tính cho các vị trí tương ứng.

Để thuyết phục các nhà đầu tư, một bản kế hoạch kinh doanh cần những yếu tố gì? Một bản kế hoạch kinh doanh hoàn thiện cần phải đảm bảo các phần sau:

(i) Sản phẩm, dịch vụ: mô tả sản phẩm, dịch vụ mà công ty sẽ cung cấp, chú trọng vào lợi ích mà khách hàng sẽ nhận được khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ của mình.

(ii) Phân tích thị trường: là phần trọng yếu mà từ đó người viết (cũng như người đọc) có thể xác định được phân khúc thị trường, tiềm năng phát triển, nhu cầu khách hàng, cách thức tiếp cận khách hàng, tình hình các đối thủ cạnh tranh…

(iii) Chiến lược thực hiện: ở mức tối thiểu thường bao gồm các chiến lược tiếp thị, quảng bá, và bán hàng; nên bao gồm những cột mốc về ngày tháng và chi phí.

(iv) Đội ngũ quản lý: phần này rất được nhà đầu tư chú trọng, bao gồm một sơ đồ tổ chức, sơ lược về năng lực của những người tham gia dự án, xác định những kỹ năng còn thiếu sót và chiến lược bổ trợ những thiếu sót ấy, cuối cùng là kế hoạch nhân sự ở cấp lãnh đạo.

(v) Phân tích tài chính: các báo cáo dự toán ở mức tối thiểu về kết quả kinh doanh, cân đối kế toán, lưu chuyển tiền tệ cho 3-5 năm; ngoài ra có thể phân tích thêm về thời điểm hòa vốn hoặc các chỉ tiêu tài chính cơ bản.

Một bản kế hoạch kinh doanh thường không đòi hỏi người viết phải trau chuốt về ngôn từ nên các ý chính có thể được viết dưới dạng gạch đầu dòng miễn sao bảo đảm yếu tố rõ ràng mạch lạc. Ngoài ra để làm phong phú và tăng tính hấp dẫn, dễ hiểu của bản kế hoạch, bạn có thể sử dụng hình ảnh, đồ thị và bảng biểu để minh họa cho ý tưởng của mình.



Cạnh tranh bằng định vị sản phẩm [VnEconomy]

Thông thường, một sản phẩm (hay dịch vụ) dưới tên một thương hiệu được định vị từ chính lợi thế cạnh tranh vượt trội nhất của nó. Đây cũng là cách thức định vị kinh điển và phổ biến nhất.


Trong cách định vị này, doanh nghiệp dùng lợi thế cạnh tranh của sản phẩm để “bắt” người tiêu dùng phải nhìn nhận sản phẩm và thương hiệu theo cách mà mình mong muốn.

Điều này cũng đồng nghĩa với việc dùng lợi thế cạnh tranh của sản phẩm để “cấy” vào tâm trí người tiêu dùng một sự liên tưởng nổi bật và nhất quán, sao cho, hễ nói đến tên của sản phẩm (bao gồm tên thương hiệu) đó, khách hàng, người tiêu dùng nghĩ ngay đến một thuộc tính nào đó của sản phẩm. Rất quan trọng, thuộc tính này phải là thuộc tính nổi trội của sản phẩm, mang lại giá trị vượt trội cho khách hàng và người tiêu dùng.

Khi Nescafé Café Việt được truyền thông là “mạnh”, nó phải dựa vào thuộc tính nổi trội là nồng độ cà phê cao của sản phẩm này. Khi Dr. Thanh được truyền thông là “không lo bị nóng”, nó phải dựa vào thuộc tính nổi trội là “thanh lọc cơ thể”. Tất nhiên, các thuộc tính “mạnh” và “thanh lọc cơ thể” đã đủ vượt trội để trở thành lợi thế cạnh tranh hay không, còn tùy thuộc vào “sự thể hiện” của sản phẩm.

Đó được gọi là “lý do để tin” (reason to believe) - tức lý do để người tiêu dùng tin vào thuộc tính nổi trội được truyền thông của các sản phẩm này. Như vậy, có thể nói, cả hai sản phẩm đều đang định vị sản phẩm từ chính lợi thế cạnh tranh mà họ nhìn nhận (và muốn mọi người nhìn nhận) là mình đang có. Lẽ đương nhiên, không ai định vị sản phẩm bằng cách tuyên bố điểm yếu của mình so với đối thủ.

Nếu như việc định vị bằng lợi thế cạnh tranh là điều hết sức thông thường, thì động thái ngược lại - cạnh tranh bằng cách thức định vị - lại là câu chuyện hoàn toàn khác. Việc định vị sản phẩm để tạo ra lợi thế cạnh tranh có thể được thực hiện thông qua một trong các cách thức tuyên ngôn giá trị (value proposition) chủ yếu sau đây:

Giá trị cao hơn nên giá cao hơn (more value, more price): Cách thức tuyên ngôn này truyền cho người tiêu dùng niềm tin rằng sản phẩm đem lại giá trị cao hơn sản phẩm của đối thủ nên giá bán phải đắt hơn. Cần lưu ý, ở đây cụm từ “giá trị” không chỉ bao hàm ý nghĩa chất lượng.

Mercedes-Benz là ví dụ về cách thức định vị này. Sản phẩm của Mercedes - Benz được truyền thông là chất lượng vượt trội, sang trọng, thẩm mỹ… hơn hẳn, nên giá bán cũng đắt hơn hẳn. Nike và Adidas cũng vậy - giá cao hơn vì giá trị cũng cao hơn. Rất nhiều sản phẩm, thương hiệu thâm nhập thị trường bằng cách thức định vị này; và cũng nhiều người tiêu dùng sẵn lòng chấp nhập những sản phẩm mà họ cho là mang lại lợi ích (cảm tính hay lý tính) vượt trội với mức giá cao.

Giá trị cao hơn, nhưng giá tương đương (more value, same price): Sản phẩm mang lại giá trị cao hơn sản phẩm của đối thủ, nhưng giá bán lại bằng với giá của đối thủ. Một khách sạn mới mở tọa lạc ngay bên cạnh một khách sạn khác có thể áp dụng chiến lược định vị kiểu này để giành khách - trang thiết bị mới hơn, chất lượng phục vụ tốt hơn, nhưng chỉ bán bằng giá của đối thủ cạnh tranh. Tại Việt Nam, kiểu truyền thông “chất lượng ngoại, giá nội” là hình thức định vị “more value, same price”, vì “chất lượng ngoại” thường được hiểu là hơn, trong khi “giá nội” được hiểu là bằng giá.

Giá trị cao hơn, nhưng giá thấp hơn (more value, less price): Sản phẩm mang lại giá trị cao hơn sản phẩm của đối thủ, nhưng giá bán lại thấp hơn. Đây là cách thức định vị “gây hấn” và thách thức trực diện. Còn nhớ, mạng điện thoại di động Viettel, khi mới ra đời đã từng truyền thông các lợi ích vượt trội các đối thủ hiện hữu, nhưng giá cả lại thấp hơn. Kết quả là chỉ trong một thời gian ngắn, Viettel đã giành lấy thị phần đáng kể từ tay đối thủ.

Khi sản phẩm được tung ra với dung tích (hoặc trọng lượng) nhiều hơn sản phẩm có cùng mức chất lượng của đối thủ, nhưng với giá bán thấp hơn thì đó là một dạng định vị “more value, less price”. Cách thức định vị này còn có thể được áp dụng cho những sản phẩm có nồng độ đậm đặc hơn, nhưng giá thấp hơn (ví dụ cà phê hòa tan, nước rửa chén, nước tương…).

Giá trị tương đương, nhưng giá thấp hơn (same value, less price): Sản phẩm mang lại giá trị tương đương sản phẩm của đối thủ, nhưng giá bán lại thấp hơn. Big C tại Việt Nam đang áp dụng cách thức định vị này để “tuyên chiến” với các chuỗi siêu thị hiện hữu. Trên thế giới, các siêu thị Wal-Mart, Best Buy, Circuit City cũng từng định vị như vậy. Đặc điểm chung của các thương hiệu này là không tuyên ngôn chất lượng tốt hơn, hay giá trị cao hơn mà chỉ liên tục truyền thông giá rẻ hơn. Big C tại Việt Nam có slogan là “Giá rẻ cho mọi nhà!” và phát triển hoạt động kinh doanh trên nền tảng câu khẩu hiệu ấn tượng này.

Giá trị thấp hơn, nhưng giá thấp hơn nhiều (less value, much less price): Sản phẩm mang lại giá trị thấp hơn so với sản phẩm của đối thủ, nhưng giá bán cũng thấp hơn nhiều. Jestar trên thế giới và Jetstar Pacific Airlines tại Việt Nam là ví dụ về cách thức định vị này. Chất lượng dịch vụ của hãng hàng không này được cho là thấp hơn các hãng hàng không khác, nhưng khách hàng vẫn chọn hãng vì giá vé rẻ hơn rất nhiều. Nếu so sánh tương quan giữa mức độ thua sút về chất lượng và mức độ “dễ chịu” về giá, thì yếu tố giá rẻ đã giành phần thắng trong nhiều trường hợp.

Đó là lý do các hãng hàng không giá rẻ trên thế giới vẫn có thể tồn tại và ngày càng phát triển. Đặc biệt, trong thời kỳ suy thóai kinh tế toàn cầu, những sản phẩm định vị “less value, much less price” chắc chắn sẽ có nhiều cơ hội chiến thắng hơn. Các tour du lịch giá rẻ, những khách sạn mini mở ra bên cạnh các khách sạn hai, ba sao; các thương hiệu taxi hợp tác xã… có vẻ như đều đang áp dụng cách thức định vị “less value, much less price” và cũng gặt hái được ít nhiều thành công.

Nói chung, cạnh tranh bằng định vị (hoặc tái định vị) theo những cách thức nêu trên là một trong những chiến lược khôn ngoan, có thể đem lại thành công cho doanh nghiệp. Điều cần lưu ý là cách thức định vị nào cũng có những ưu và nhược điểm nhất định mà nếu không đánh giá hết, doanh nghiệp có thể rơi vào tình trạng “gậy ông đập lưng ông”. Đó là tình trạng sản phẩm bị tiêu diệt bởi chính cách thức định vị của mình.

Tại Việt Nam có hãng taxi từng áp dụng chiến lược “less value, much less price” với giá cước cực rẻ để rồi phải gặp khó khăn, và phát triển “ì ạch” cho đến tận hôm nay.

Sức mạnh của truyền thông nội bộ [VnEconomy]



Nhân viên thì tụm năm tụm ba nói xấu sếp, còn sếp thì luôn phải giải quyết hết mâu thuẫn này đến khúc mắc khác, luôn miệng cho rằng anh em không hiểu mình.

Với vai trò của mình, lẽ ra người lãnh đạo doanh nghiệp cần tập trung vào chiến lược kinh doanh, mở rộng thị trường, thay vào đó họ lại phải bận bịu với bao chuyện nội bộ. Theo các chuyên gia, vấn đề ở đây là doanh nghiệp chưa biết khai thác sức mạnh của truyền thông nội bộ.

Trong chương trình “Cà phê sáng thứ Bảy” lần thứ hai, do Hội Doanh nghiệp trẻ Tp.HCM tổ chức, người dẫn chương trình yêu cầu mọi người xé một tờ giấy làm bốn mảnh. Người thì cẩn thận gấp lại xé cho gọn ghẽ, người thì cầm lên xé ngay lập tức, có người lại chần chừ không biết nên xé vuông hay tròn, dài hay ngắn, thậm chí có người còn để nguyên cho đến hết giờ.

Cuối cùng người dẫn chương trình giải thích trò chơi xé giấy tựa như vấn đề truyền thông điệp. Mệnh lệnh trong doanh nghiệp thường là một chiều từ trên xuống dưới. Khi thông điệp đưa ra không rõ ràng, kết quả sẽ rất khác nhau, vì ít khi nhân viên hỏi lại, ngại hỏi, hoặc không dám hỏi.

Ông Nguyễn Khắc Huy, Phó tổng giám đốc Tập đoàn Kinh Đô, cho rằng việc truyền đi thông điệp nội bộ phải đồng bộ và thống nhất với chiến lược, mục đích của doanh nghiệp, và cần phải rõ ràng, đi đúng vào vấn đề, đúng đối tượng. Người truyền đạt cần thể hiện được ý đồ của mình, để biến thông điệp thành hành động của nhân viên, nhằm đạt được kết quả mong muốn.

Theo ông Huy, các doanh nghiệp cần định vị mình để thiết lập truyền thông nội bộ một cách phù hợp, không nên áp dụng rập khuôn theo các công ty khác, vì mỗi doanh nghiệp có cơ cấu tổ chức và văn hóa khác nhau. Truyền thông nội bộ cần có sự tương tác đa chiều, xuyên suốt, không đơn thuần là những mệnh lệnh, vì mỗi cá nhân đều có nhu cầu được lắng nghe, được nói và được tôn trọng.

Ông Huy cũng cho rằng các nhà quản lý đừng quá chú trọng đến thông điệp mà quên đi thái độ, tình cảm của người tiếp nhận. Theo ông, mỗi nhân viên đều có mặt mạnh và mặt yếu, nên tập trung vào mặt mạnh của họ để tạo ra không khí, môi trường trong thông điệp nội bộ nhằm làm bật lên tính sáng tạo của tập thể, điều mà ông cam đoan sẽ nâng sức mạnh tổ chức lên nhiều lần.

Bà Lê Phương Phương, Giám đốc Marketing Ngân hàng ANZ, kể: cách đây chưa lâu, khi tiếp nhận 10 sinh viên vào thực tập, một câu hỏi nảy ra trong giới lãnh đạo Ngân hàng ANZ là nếu tổ chức đào tạo và làm công tác truyền thông nội bộ tốt trong nhóm sinh viên này, thì kết quả mang lại sẽ như thế nào? Một kế hoạch chi tiết được vạch ra, với sự hỗ trợ của 25 nhân viên phòng kinh doanh, trong vòng ba tháng, nhóm sinh viên thực tập đã mang về cho ngân hàng khoản tiền gửi tiết kiệm 10 triệu Đô la Mỹ.

Câu chuyện cho thấy một khi làm tốt công tác truyền thông nội bộ, làm cho người tiếp nhận thông điệp hiểu được họ cần làm gì, làm cho ai, cùng sự chuẩn bị đầy đủ, thì kết quả mang lại sẽ thật bất ngờ. Theo bà Phương, chính sự cởi mở và minh bạch là chìa khóa tạo nên sự thành công của truyền thông đa chiều. Ở ANZ, nhân viên chính là tài sản quý giá nhất, và truyền thông nội bộ trở thành một sợi chỉ xuyên suốt, được lập kế hoạch chi tiết hàng năm, với quan niệm nhân viên vui vẻ thì mới có khách hàng vui vẻ.

Dù doanh nghiệp trang bị đầy đủ điện thoại, e-mail, có trang web và cẩm nang nội bộ, nhưng theo bà Phương, những phương tiện đó vẫn không thể thay thế cho những cuộc gặp gỡ trực tiếp, mà ở đó nhân viên được phép nói không, được phép đề đạt ý kiến, đóng góp cho chiến lược của công ty, vừa giải tỏa được những vướng mắc trong công việc và trong cuộc sống.

Bà Phương cho rằng truyền thông nội bộ bắt đầu từ cấp trên, nhưng hiệu quả và quan trọng nhất là ở bộ phận quản lý cấp trung, vì việc ách tắc hay thông suốt trong vấn đề truyền thông nội bộ đều phụ thuộc vào bộ phận này.

Còn ông Đỗ Hòa, Giám đốc điều hành Công ty IME Việt Nam, cho rằng thông tin từ chiều này đến chiều kia dễ bị khúc xạ, biến dạng hoặc thông tin không đến nơi đến chốn, các bên nói sai những gì cần nói, nghĩ sai những gì được nghe. Chính sự méo mó thông tin sẽ gây sự ức chế, phát sinh ấm ức dẫn đến việc nhân viên nói xấu lãnh đạo, đồng nghiệp bằng những thông tin thêu dệt, làm suy yếu sức mạnh nội bộ.

Theo ông Hòa, lãnh đạo doanh nghiệp cần dành thời gian để tìm hiểu sự khác biệt giữa mình với nhân viên, tạo không khí để mọi người cảm thấy tin cậy, thoải mái khi trao đổi, tâm sự với nhau, để thấy rằng “không có gì đáng sợ khi chúng ta hiểu nhau”.
 
MarNET - Dich Vu Seo - Dịch vụ Seo © 2008-2010
No 16/640 Lang Street, Dong Da District, Hanoi, Vietnam | +844.6659.2786 | info@marnet.net | Power by MarNET - Online Solution